15/10/11

Tăng tốc kết nối Internet bằng thay đổi máy chủ DNS


            Tăng tốc kết nối Internet bằng thay đổi máy chủ DNS - Có nhiều hệ số đóng vai trò trong việc quyết định hiệu suất của một kết nối, chẳng hạn như tốc độ máy chủ, kiểu kết nối mạng (không dây hoặc chạy dây), router và băng thông mạng cũng như độ trễ,... Trong bài này chúng tôi sẽ hướng dẫn cho các bạn cách tăng tốc kết nối Internet bằng biện pháp thay đổimáy chủ DNS.
Đa số người dùng thường cho rằng băng thông của kết nối Internet của họ quyết định hiệu suất tổng thể của kết nối. Mặc dù vậy điều này không phải hoàn toàn đúng. Có nhiều hệ số đóng vai trò trong việc quyết định hiệu suất tổng thể này, chẳng hạn như tốc độ máy chủ mà người dùng muốn kết nối, kiểu kết nối mạng (không dây hoặc chạy dây), router và băng thông mạng cũng như độ trễ. Và một trong những hệ số ít được quan tâm đến nhất đó là máy chủ DNS (Domain Name System) của người dùng.
Khi nhập vào trình duyệt một địa chỉ web, hệ thống của bạn sẽ gửi yêu cầu tra cứu đến máy chủ DNS để tìm địa chỉ IP của máy chủ đang hosting website có tên miền đó. Điều tương tự cũng xảy ra khi bạn sử dụng ứng dụng Internet, máy khách email hoặc chương trình khác để truy cập tài nguyên Internet. Về cơ bản, Domain Name System là một hệ thống phân định tên cho các thiết bị kết nối Internet, chúng sẽ dịch các tên miền dễ nhớ thành địa chỉ IP thuần túy chỉ có các chữ số.
Cho ví dụ, khi bạn nhập vào www.pcworld.com (hoặc chỉ pcworld.com) vào trình duyệt, hệ thống của bạn sẽ đáp trả bằng cách tra cứu bộ phân giải DNS của nó; nếu địa chỉ IP cần thiết chưa được lưu sẵn trong cache, hệ thống của bạn sẽ gửi đi một yêu cầu đến máy chủ DNS khác, công việc này được thực hiện cho tới khi có máy chủ nào đó trả lời bằng một địa chỉ thích hợp – trong trường hơp này là 70.42.185.10. Trong lúc đó, bạn phải đợi cho đến khi yêu cầu và việc tra cứu hoàn tất – và nếu yêu cầu bị thất bại tại một máy chủ nào đó, hệ thống của bạn phải chuyển sang yêu cầu máy chủ DNS khác.
Các máy chủ DNS về cơ bản đóng vai trò trung gian để liên kết hệ thống của bạn với tất cả tài nguyên ở đâu đó trên mạng Internet. Thông thường, ISP của bạn sẽ cung cấp máy chủ DNS và gán chúng thông qua DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol). Khi họ thực hiện tốt công việc này, bạn sẽ không thấy hiện tượng giữ chậm trong quá trình duyệt hoặc sử dụng các tài nguyên trực tuyến. Chính vì lý do này mà việc tìm cho được các máy chủ DNS tốc độ xử lý nhanh là một vấn đề rất quan trọng.

Tìm máy chủ DNS nhanh nhất


Tiện ích mã nguồn mở DNS benchmark được sử dụng cho các máy tính Mac OS X, Windows và UNIX. Với các hệ thống Windows, công cụ DNS Benchmark của GRC cung cấp nhiều kết quả chi tiết và toàn diện hơn.
Các máy chủ DNS được cung cấp bởi nhiều ISP theo mặc định không phải lúc nào cũng có hiệu suất tốt nhất hoặc tin cậy nhất, trong khi đó nhiều tùy chọn DNS công cộng khác lại đáp ứng được điều này. Việc tìm ra máy chủ DNS nhanh nhất cho một kết nối nào đó là một khó khăn đối với hầu hết người dùng, do đó chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách tìm ra máy chủ DNS nhanh nhất trong vùng và cách cấu hình hệ thống để sử dụng chúng.

DNS Benchmark của GRC sẽ đánh giá hiệu suất và sự ổn định của hàng nghìn máy chủ DNS.
Bắt đầu bằng cách download hai tiện ích để xác định máy chủ DNS nhanh nhất trong vùng của bạn: tiện ích DNS benchmark mã nguồn mở Namebench và DNS Benchmark của GRC. Cả hai đều có các chức năng giống nhau và cách tốt nhất là bạn nên chạy cả hai để xem các kết quả có nhất quán hay không; mặc dù vậy DNS Benchmark là tiện ích có tùy chọn toàn diện hơn.
Để chạy Namebench, chỉ cần download nó và kích đúp vào file thực thi. Khi giao diện Namebench xuất hiện, tích các tùy chọnInclude global DNS providers và Include best available regional DNS services, xác nhận rằng location của bạn được thiết lập đúng trong menu sổ xuống tương ứng, kích nút Start Benchmark. Namebench sẽ chạy một vài quá trình test, sau đó cho phép bạn chuyển sang trang kết quả có liệt kê các máy chủ DNS nhanh nhất mà hệ thống của bạn có thể truy cập.

Trang kết quả của DNS benchmark sẽ hiển thị danh sách các máy chủ DNS có thời gian đáp trả nhanh nhất.
DNS Benchmark của GRC cũng tương tự như vậy. Download và kích đúp vào file thực thi để chạy tiện ích. Khi giao diện DNS Benchmark xuất hiện, kích tab Nameservers, sau đó là nút Add/Remove. Cửa sổ Edit DNS Server IPs sẽ mở ra. Ở bên dưới cửa sổ này, kích tùy chọn Build Nameserver Custom List. Trong hộp kết quả xuất hiện, kích vào danh sách, GRC DNS Benchmark có thể quét 4854 bộ phân giải DNS toàn cầu để trả lời câu hỏi liệu chúng có thể truy cập từ địa điểm của bạn hay không. Khi danh sách hoàn tất, kích nút Run Benchmark trên tab Nameservers. Khi benchmark hoàn tất công việc của nó, chương trình sẽ hiển thị kết quả một cách tự động, phân loại theo thời gian đáp trả.
Trong cả hai benchmark, các máy chủ DNS với thời gian đáp trả nhanh nhất sẽ cung cấp hiệu suất tốt nhất. Ghi lại các địa chỉ IP trên cùng để bạn có thể sử dụng chúng về sau này trong việc cấu hình hệ thống.

Cấu hình máy tính và router


Việc cấu hình máy chủ DSN ưa thích bên trong Windows liên quan đến việc thay đổi các địa chỉ IP cần thiết trong các trường thích hợp của cửa sổ TCP/IPv4 Properties.
Bạn có thể thiết lập Windows 7 để sử dụng các máy chủ DNS ưa thích bằng cách thay đổi thiết lập thích hợp trong Network Connections control panel. Kích nút Start; trong hộp Search, đánh Network Connections và nhấn Enter. Lúc này bạn sẽ thấy xuất hiện một danh sách các adapter mạng đã được cài đặt trên hệ thống. Các thiết lập DNS phải được cấu hình trên tất cả các kết nối mạng tích cực. Trên một desktop, việc cấu hình chỉ cần thực hiện trên một adapter, tuy nhiên trên notebook chúng ta cần cấu hình cả adapter chạy dây và không dây nếu sử dụng cả hai.
Adapter mạng tích cực sẽ có tên mạng được liệt kê ngay bên dưới tên của nó và không có chữ X màu đỏ trong biểu tượng. Kích phải vào adapter tích cực, chọn Properties và kích tab Networking. Trên tab Networking, bạn sẽ thấy danh sách các mục được sử dụng bởi kết nối mạng. Trong danh sách này, đánh dấu Internet Connection Protocol Version 4 (TCP/IPv4) và kích nútProperties. Trong cửa sổ xuất hiện, kích tab General nếu nó chưa được chọn sẵn, tích nút radio có nhãn Use the following DNS server addresses. Hai trường sẽ trở thành có sẵn – một là Preferred DNS server và một là Alternate DNS server. Trong trường Preferred DNS server, nhập vào địa chỉ IP của máy chủ DNS nhanh nhất (theo benchmark); trong trường Alternate DNS server, nhập vào máy chủ DNS thứ hai. Kích OK trong cửa sổ đó và kích OK lần nữa trong cửa sổ thuộc tính mạng. Sau đó đóng danh sách kết nối mạng và khởi động lại hệ thống. Lúc này bạn đã cấu hình xong Windows để sử dụng máy chủ DNS nhanh nhất trong vùng của mình.

Để tất cả hệ thống kết nối Internet thông qua router băng thông rộng sử dụng cùng một máy chủ DNS, hãy nhập vào địa chỉ IP của chúng trong thiết lập máy chủ địa chỉ mạng của router.
Việc cấu hình Windows là một cách để bảo đảm rằng hệ thống nào đó đang sử dụng các máy chủ DNS nhanh nhất hiện có. Để sắp xếp cho tất cả hệ thống được cấu hình thông qua kết nối băng thông rộng – không quan tâm đến hệ điều hành của chúng – sử dụng cùng các máy chủ DNS đó, bạn cần thay đổi các thiết lập trong router của mình.
Các bước thiết lập đối với router để sử dụng các máy chủ DNS ưa thích khá khác nhau đối với các router khác nhau, tuy nhiên quá trình cơ bản tương đối giống nhau. Cách tốt nhất là bạn cần xem hướng dẫn sử dụng của router, dưới đây chúng tôi có đưa ra một vài bước cơ bản mang tính tham chiếu.
Hầu hết các router đều cho phép bạn thiết lập hệ thống của chúng thông qua giao diện web. Mở trình duyệt và nhập192.168.0.1 hoặc 192.168.1.1 trong thanh địa chỉ. Có nhiều địa chỉ IP mà hầu hết router băng thông rộng ngày nay sử dụng. Nếu cả hai địa chỉ trên không giúp bạn vào được giao diện cấu hình của router, bạn có thể tìm địa chỉ IP của router trong hướng dẫn sử dụng của nó. Chọn Control Panel, Network and Sharing Center, Change adapter settings; kích đúp kết nối kết nối mạng tích cực; kích Details; và tìm địa chỉ IP được liệt bên dưới 'IPv4 Default Gateway'. Lấy địa chỉ IP đó và thêm http:// vào đằng trước nó, sau đó paste vào thanh địa chỉ của trình duyệt web.
Sau khi nhập vào địa chỉ IP đúng, đăng nhập vào router bằng các chứng chỉ thích hợp. Nếu không biết chúng, bạn có thể tham khảo hướng dẫn sử dụng của router. Khi đã đăng nhập, kích Basic Setup hoặc Network Setup, lúc này bạn sẽ thấy phần mang tên 'Network Address Server Settings (DHCP)'. Phần này thường có hai hoặc ba trường, đây là nơi bạn có thể nhập vào các thông tin DNS tĩnh. Nhập vào địa chỉ IP cho các máy chủ DNS nhanh nhất trong vùng, lưu các thay đổi của bạn và khởi động lại hệ thống.

11/10/11

3 cách "cứu" mật khẩu Bios


  Các thông tin mật khẩu Bios thường được lưu giữ bằng pin CMOS. Mật khẩu Bios cũng được cho là một phương pháp bảo mật. Nó có thể bảo vệ hệ thống của bạn trước những người không có thẩm quyền, làm cho họ không thể thực hiện những thay đổi về cấu hình phần cứng trên thiết bị.

Có ba phương pháp thiết lập lại hoặc gỡ bỏ mật khẩu Bios:
Phương pháp 1: Tháo pin CMOS để thiết lập lại mật khẩu Bios
Phương pháp gỡ bỏ khẩu Bios kiểu này phù hợp hơn với người dùng máy tính để bàn. Không nên áp dụng với các laptop trừ khi bạn là người có đủ kinh nghiệm để có thể tự tin "vọc" phần cứng hoặc laptop của bạn đã quá thời gian bảo hành.
Pin BIOS
Để gỡ bỏ mật khẩu Bios bằng pin CMOS, điều đầu tiên bạn cần thực hiện là rút tất cả nguồn cấp điện và cáp USB. Sau đó mở case (thùng máy) rồi đặt nằm ngay ngắn trên sàn hoặc mặt bàn. Quan sát kỹ trên bo mạch chủ bạn sẽ thấy pin CMOS, tham khảo hình bên trên để dễ nhận biết.
Khi đã tìm ra pin CMOS, hãy tháo pin và để nó bên ngoài khoảng 10 đến 25 phút trước khi lắp nó trở lại. Lý do thực hiện thời gian chờ này vì máy tính có thể vẫn còn nguồn cấp từ một số linh kiện khác như tụ điện dù mọi nguồn cấp đã được rút hết. Chính vì vậy, bạn cần phải đợi cho tới khi lượng điện tích này được xả hết sau đó mới lắp pin CMOS trở lại. Lúc này tất cả mật khẩu Bios sẽ được xóa và tất cả các thiết lập phần cứng sẽ được đặt trở lại ở chế độ mặc định của nhà máy. Trong một số trường hợp, nếu gặp thông báo lỗi trong quá trình khởi động sau đó, bạn cần phải thực hiện “Load BIOS Defaults” trong BIOS và lưu những thay đổi của mình trước khi thoát ra.



Phương pháp 2: Thiết lập mật khẩu Bios bằng PC CMOS Cleaner
PC Cmos Cleaner là bộ gỡ bỏ mật khẩu Bios tốt nhất cho tất cả máy tính cá nhân, máy chủ và máy tính xách tay. PC CMOS Cleaner có thể khôi phục, xóa, giải mã và hiển thị mật khẩu giám sát được lưu trong BIOS bất kể bo mạch chủ mà bạn đang sử dụng là gì.
Giao diện phần mềm PC CMOS Cleaner
Tất cả những gì bạn cần ở đây là file ISO mang tên “PCCMOSCleaner_Free.ISO”. Bạn cần ghi CD bằng phần mềm ghi ISO Image trước khi sử dụng nó. Khởi động bằng đĩa CD có chứa file ISO. Khi được nạp, phần mềm sẽ hiển thị mật khẩu của bất cứ BIOS nào hoặc thiết lập BIOS về trạng thái mặc định. Nó là một công cụ rất hữu dụng cho người dùng khi quên mất mật khẩu Bios của họ, hoặc xóa mật khẩu Bios từ các máy tính cũ được mua về từ nhiều nguồn khác nhau.
* Hỗ trợ tất cả các máy tính cá nhân x86, x86_64.
* Hỗ trợ hầu hết các Bios, chẳng hạn như AWARD, AMI, Compaq, Phoenix, Samsung, IBM, Compaq, DTK, Thinkpad, Sony, Toshiba,...
* Hiển thị mật khẩu giám sát của BIOS.
* Gỡ bỏ mật khẩu BIOS (sẽ thiết lập về trạng thái mặc định, cần thiết lập lại ngày).
* Thiết lập BIOS về trạng thái mặc định.



Phương pháp 3: Sử dụng mật khẩu “cửa sau” của nhà sản xuất Đây là cách thức cuối cùng nếu hai phương pháp trên không thể giúp bạn gỡ bỏ mật khẩu.
Một số nhà sản xuất BIOS để dành một số mật khẩu cửa sau cho hệ thống Bios của mình. Mục đích là để các kỹ thuật viên có thể sử dụng chúng để truy cập vào BIOS khi phần cứng đang được phục vụ. Mặc dù vậy, các nhà sản xuất Bios thường liên tục thay đổi mật khẩu “cửa sau” của mình theo chu kỳ.
Mật khẩu BIOS “cửa sau” cho AMI
Mật khẩu BIOS cửa sau của AMI gồm có: A.M.I., AAAMMMIII, AMI?SW , AMI_SW, BIOS, CONDO, HEWITT RAND, LKWPETER, MI và PASSWORD.
Mật khẩu BIOS cửa sau của Award
Mật khẩu Bios "cửa sau" cho Award gồm có 8 dấu cách. Một số mật khẩu "cửa sau" được báo cáo khác gồm có 01322222, 589589, 589721, 595595, 598598 , ALFAROME, ALLY, ALLy, aLLY, aLLy, aPAf, award, AWARD PW, AWARD SW, AWARD?SW, AWARD_PW, AWARD_SW, AWKWARD, awkward, BIOSTAR, CONCAT, CONDO, Condo, condo, d8on, djonet, HLT, J256, J262, j262, j322, j332, J64, KDD, LKWPETER, Lkwpeter, PINT, pint, SER, SKY_FOX, SYXZ, syxz, TTPTHA, ZAAAADA, ZAAADA, ZBAAACA và ZJAAADC.
Mật khẩu BIOS "cửa sau" của Phoenix
Mật khẩu Bios "cửa sau" cho Phoenix gồm có: BIOS, CMOS, phoenix, và PHOENIX.

9/10/11

Cuộc đời cỦA Steve JOB :(


1955 - Sinh ngày 24/2 tại San Francisco trong gia đình Joanne Simpson và Abdulfattah Jandali.

1955 - Được vợ chồng Paul và Clara Jobs nhận làm con nuôi và 5 tháng sau chuyển về sống ở Mountain View, California.

1969 - Được William Hewlett nhận vào làm việc tại HP
1971 - Gặp gỡ Steve Wozniak, nhà đồng sáng lập ra Apple sau này

1972 - Tốt nghiệp trường trung học Homestead High School ở Los Altos.

1972 - Đăng ký vào học tại trường Cao đẳng Read, Portland, Oregon, nhưng đã bỏ học sau 1 học kỳ.

1974 - Gia nhập vào công ty Atari Inc. với vai trò là kỹ thuật

1975 - Bắt đầu tham gia các cuộc họp của câu lạc bộ “Homebrew Computer Club”, chuyên bàn về các vấn đề về máy tính.
1976: Jobs và Wozniak quyên góp được 1.750 USD và bắt đầu xây dựng chiếc máy tính to bằng chiếc bàn đầu tiên - Apple I.

1976 - Thành lập công ty Apple Computer Company cùng với Wozniak và người bạn Ronald Wayne. Ông Wayne đã bán cổ phần của mình 2 tuần sau đó.

1976 - Jobs và Wozniak ra mắt Apple I và bán với giá 666.66 USD, chiếc máy tính đầu tiên được trang bị giao diện video và sử dụng bộ nhớ ROM.
1977 - Apple đổi tên thành công ty Apple Computer Inc.

1977 - Apple ra mắt máy tính Apple II, chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới được sử dụng như là máy tính cá nhân.

1978 - Jobs có đứa con đầu lòng là Lisa, với người vợ Chrisann Brennan.

1979 - Bắt đầu phát triển máy tính  Macintosh.

1980 - Máy tính Apple III ra đời.

1980 - Apple gia nhập thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu nhảy từ 22  USD lên 29 USD trong ngày giao dịch đầu tiên

1981 - Jobs cống hiến hết mình vào việc phát triển Macintosh.

1983: Chiêu mộ John Sculley vào vị trí chủ tịch kiêm giám đốc điều hành CEO của Apple.

1983 - Ra mắt “Lisa”, chiếc máy tính điều khiển bằng chuột đầu tiên. Tuy nhiên, sản phẩm này đã thất bại trên thị trường.

1984 - Apple ra mắt máy tính Macintosh với chiến lược quảng cáo rất rầm rộ.

1985 - Giành được giải thưởng Công nghệ quốc gia do Tổng thống Mỹ Ronald Reagan trao.

1985 - Jobs bị đánh bật ra khỏi bộ máy lãnh đạo của Apple do những bất đồng với Sculley. Jobs từ chức và kéo theo 5 nhân viên của Apple ra đi cùng ông.

1985 - Thành lập công ty Next Inc. để phát triển phần cứng và phần mềm. Công ty này sau đó được đổi tên thành Next Computer Inc.

1986 - Mua lại công ty Pixar từ George Lucas với giá chưa đến 10 triệu USD và sau đó đổi tên thành hãng sản xuất phim hoạt hình Pixar Animation Studios
989 - Next ra mắt máy tính NeXT Computer với giá 6.500, còn gọi là The Cube. Chiếc máy tính này được bán kèm với một chiếc màn hình đơn sắc, nhưng đã không thành công trên thị trường.
1989 - Pixar dành giải thưởng Academy Award với bộ phim hoạt hình ngắn “Tin Toy”.

1991 - Steve Jobs cưới người vợ hiện nay là Laurene Powell. Ông có 3 người con.
1992 - Steve Jobs phát hành hệ điều hành NEXTSTEP cho bộ vi xử lý Intel Corp. 486. Tuy nhiên, hệ điều hành này đã thất bại trong việc cạnh tranh với Windows của Microsoft và OS/2 của IBM.

1993 - “Đóng cửa” bộ phận phần cứng và chuyển sang tập trung vào phần mềm.

1995 - Bộ phim “Câu chuyện đồ chơi - Toy Story” của Pixar, hãng phim hoạt hình mà Jobs là tổng giám đốc điều hành trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất.

1996 - Apple mua lại công ty Next Computer của Jobs với giá 427 triệu USD tiền mặt cộng với cổ phiếu của Apple. Jobs trở thành cố vấn cho chủ tịch Apple khi đó là Gilbert F. Amelio.

1997 - Jobs trở thành Giám đốc điều hành tạm thời và chủ tịch của Apple sau khi Amelio bị lật đổ. Mức lương của Jobs là 1 USD.

1998 - Apple phát hành máy tính iMac “tất cả trong một” với doanh số lên tới hàng triệu chiếc được bán ra. Sản phẩm này giúp Apple hồi phục tài chính và đẩy giá cổ phiếu của hãng tăng tới 400%. iMac đã giành giải thưởng vàng tại Cuộc thi Định hướng nghệ thuật và thiết kế Anh. Tạp chí Vogue gọi iMac là “một trong những thời trang nóng nhất của mùa xuân” còn trang Business Week ca ngợi iMac là “một trong những hình ảnh bền vững nhất của thế kỷ”. Jobs cũng giành giải thưởng của Viện thiết kế Chrysler cho việc thiết kế iMac.

1998 - Apple bắt đầu làm ăn có lãi và đạt kỉ lục về mức lợi nhuận trong 4 quý tài chính liên tiếp.

2000 - Từ “tạm thời” được loại bỏ khỏi chức danh của Steve Jobs. Jobs chính thức trở thành CEO của Apple.

2001 - Apple ra mắt hệ điều hành thế hệ mới - OS X dựa trên nền tảng Unix và hệ điều hành này đã có nhiều bản nâng cấp trong các năm qua.

2001 - Apple có bước đột phá đầu tiên vào thị trường điện tử tiêu dùng với việc ra mắt iPod, một chiếc máy nghe nhạc MP3 cầm tay. iPod đã được bán ra hơn 4,4 triệu chiếc trong năm tài khóa 2004.

2002 - Apple trình làng chiếc máy tính để bàn iMac tất cả trong một với màn hình phẳng. Sản phẩm đã xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Time năm đó và giành nhiều giải thưởng thiết kế.

2003 - Jobs giới thiệu iTunes Music Store chuyên bán các ca khúc và album đã được mã hóa.

2003 - Jobs ra mắt chiếc máy tính cá nhân PowerMac G5 64 bit.

2004 - iPod Mini, một phiên bản nhỏ hơn của máy nghe nhạc iPod đời đầu được ra công bố.

2004 - Vào tháng 2, hợp đồng hợp tác của Pixar và Disney đã hết hạn. Jobs và giám đốc điều hành Disney là Michael Eisner đã cố gắng nhưng thất bại trong việc thương lượng quan hệ cộng tác mới. Vì vậy, Jobs tuyên bố rằng Pixar sẽ tìm kiếm một đối tác mới để sản xuất phim khi hợp đồng với Disney hết hạn. Cuối cùng Pixar được bán lại cho hãng Walt Disney vào năm 2006

2004 - Vào tháng 8 năm này, Jobs được chuẩn đoán mắc phải căn bệnh ung thư tuyến tụy và trải qua một ca phẫu thuật. Jobs đã hồi phục và trở lại làm việc vào tháng 9.

2004 - Dưới tài điều hành của Jobs, Aple đã báo cáo doanh thu quý tài chính thứ 4 cao nhất trong gần một thập kỷ. Thành công này là nhờ vào sự trỗi dậy của mạng lưới bán lẻ và doanh số bán ra máy nghe nhạc iPod. Doanh thu của Apple trong quý tài chính kết thúc vào ngày 25/9 là 2,3 tỷ USD.

2005 - Apple dùng Hội nghị các nhà phát triển trên thế giới của mình để thông báo rằng hãng đang chuyển từ việc sử dụng bộ vi xử lý PowerPC của IBM trong các sản phẩm máy tính của hãng sang các bộ vi xử lý của Intel.

2007 - Jobs giới thiệu iPhone, một trong những chiếc điện thoại thông minh đầu tiên không có bàn phím tại triển lãm Macworld Expo.

2008 - Vào cuối tháng 12, Apple thông báo Jobs sẽ không phát biểu tại Macworld Expo 2009 cũng như không tham dự sự kiện này. Thông tin này ngay lập tức làm dấy lên những suy đoán về tình hình sức khỏe của ông. Apple cũng cho biết kể từ năm 2009, hãng sẽ không còn tham dự triển lãm này.

2009 - Vào đầu tháng 1, Jobs cho biết ông đang sụt cân một cách nghiêm trọng do sự mất căn bằng hocmon. Tại thời điểm đó, Jobs khẳng định vấn đề này sẽ không cản trở ông tiếp tục đảm nhiệm vị trí CEO của Apple. Khoảng một tuần sau đó, Jobs thông báo ông sẽ nghỉ việc ở Apple cho đến tháng 6 vì tình trạng sức khỏe của ông đang xấu đi. Jobs không tiết lộ căn bệnh của mình. COO Tim Cook của Apple đã thay mặt Jobs xử lý các công việc hàng ngày tại công ty trong thời gian phục hồi của Jobs. Apple cho biết Jobs sẽ vẫn tham gia vào việc đưa ra những quyết định chiến lược quan trọng của Apple.

Tháng 6/2009 - Tờ Thời báo phố Wall đưa tin Jobs đã trải qua một ca phẫu thuật cấy ghép gen. Một bệnh viện ở Tennessee sau đó đã xác nhận thông tin này.

Tháng 6/2009 - Apple khẳng định Jobs sẽ quay trở lại làm việc vào cuối tháng này.

Tháng 1/2010 - Apple công bố máy tính bảng iPad. Sản phẩm này dã ngay lập tức gặt hái được thành công ngoài sức tưởng tượng và khởi đầu cho một thể loại mới trong các thiết bị điện toán di động.

Tháng 9/2010 - Jobs xuất hiện trên sân khấu ở San Francisco để giới thiệu set-top box thế hệ thứ hai của Apple TV giúp chuyển phim từ Internet hoặc các thiết bị di động như iPhone và iPad trực tiếp sang TV.

Tháng 1/2011 - Apple thông báo Jobs xin nghỉ để điều trị y tế mà không đưa ra lý do nào cụ thể. Những câu hỏi về sự nghiêm trọng của tình hình sức khỏe Jobs lại dấy lên, ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu, việc phát triển sản phẩm và  các hoạt động kinh doanh của Apple.

Tháng 6/2011 - Jobs bất ngờ xuất hiện tại Hội nghị các nhà phát triển thế giới của Aple để giới thiệu iCloud và iOS 5. Một vài ngày sau, Jobs gặp gỡ Hội đồng thành phố Cupertino (Mỹ) để xin phép xây dựng đại bản doanh mới trông giống như một phi thuyền ở thành phố này.
Tháng 8/2011 - Jobs thông báo ông sẽ từ chức khỏi chiếc ghế Giám đốc điều hành của Apple và Tim Cook sẽ đảm nhiệm vị trí này. Jobs chỉ đảm nhận vai trò Chủ tịch hội đồng quản trị của công ty.

Vào ngày 5/10/2011 - Steve Jobs qua đời ở tuổi 56.
Tưởng nhớ 1 Huyền thoại nào  :((

5/10/11

Kích hoạt chế độ Safe Mode trong Windows 7





Quản trị mạng – Có rất nhiều vấn đề xảy ra đối với hệ điều hành khi cấu hình sai phần mềm hoặc cài đặt sai driver, khi đó công việc mà chúng ta cần thực hiện là hủy bỏ cài đặt những gì vừa được thực hiện. Tuy nhiên có nhiều trường hợp lỗi không cho phép vào được màn hình desktop thông thường. Khi đó chúng ta có thể sử dụng chế độ Safe Mode để khắc phục điều này.
Máy tính là một thiết bị phức tạp và chuyên dụng, với hàng triệu dòng mã điều khiển hàng triệu các transistor để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Không hề ngạc nhiên khi có vấn đề xảy ra khi bạn nâng cấp BIOS hoặc download driver mới, hay chỉ lướt web. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bạn phải vứt thiết bị của mình và thay thế nó bằng một cái mới.
Khi một máy tính bị lỗi hoặc hệ điều hành gặp vấn đề trong khởi động thì vấn đề thường nằm ở chỗ cấu hình sai phần mềm hoặc driver mới cài đặt gần đây. Việc cài đặt có thể diễn ra suôn sẻ nhưng khi khởi động lại hệ thống, rất có thể bạn sẽ gặp phải lỗi. Nếu không vào được màn hình desktop, bạn sẽ không thể gỡ bỏ cài đặt chương trình hoặc driver tồi, lúc này bạn sẽ có cảm giác như vừa bị mắc phải bẫy.
May mắn cho chúng ta là Microsoft hỗ trợ một công cụ bên trong Windows mang tên gọi Safe Mode để giúp bạn khắc phục những vấn đề ở trên. Safe Mode là một phiên bản “bare-bone” của hệ điều hành Windows, nó chỉ có các driver cần thiết cho việc khởi động hệ thống, giúp bạn vào được màn hình desktop mà không cần bất cứ thiết lập hoặc sự can thiệp của các phần mềm khác. Khi đã vào được màn hình desktop, bạn hoàn toàn có thể khắc phục sự cố, loại trừ vấn đề và khởi động hệ thống một cách bình thường.
Để vào chế độ Safe Mode, chúng ta cần thực hiện theo các bước sau:
 windows 7 safe boot
Bạn có thể thấy chế độ Safe Mode trong menu Advanced Boot Options
1. Bật hay khởi động lại máy tính
2. Đợi cho đến khi máy tính khởi động phần cứng và chuẩn bị load hệ điều hành.
3. Nhấn và giữ phím F8 trong khi đợi logo Windows xuất hiện. Nếu logo Windows xuất hiện hoặc nếu hệ điều hành bắt đầu load thì bạn cần khởi động lại máy tính để thực hiện lại công việc này.
4. Màn hình Advanced Boot Options cho Windows sẽ xuất hiện. Sử dụng phím mũi tên trên bàn phím để chọnSafe Mode và nhấn Return.
5. Nếu cần truy cập Internet hoặc mạng trong chế độ Safe Mode, hãy chọn Safe Mode with Networking.
6. Windows sẽ khởi động ở chế độ Safe Mode. Khi màn hình desktop xuất hiện, nó sẽ hiển thị chữ 'Safe Mode' ở tất cả bốn góc của màn hình để báo cho bạn biết rằng bạn đang ở chế độ đặc biệt.
7. Khi kết thúc, kích Start, Shut Down, Restart để khởi động lại máy tính như thường lệ.
8. Nếu vấn đề vẫn không cho phép bạn vào được màn hình desktop, cần phải quay trở lại chế độ Safe Mode hoặc thử thực hiện các hành động quyết liệt hơn.

1/10/11

“Tăng tốc” cho Microsoft Word 2007 và 2010


Trong các ứng dụng của bộ sản phẩm Microsoft Office thì có vẻ như Word là thành phần hoạt động chậm chạp và nặng nề nhất. Thực ra có khá nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hiện tượng này, nhưng chúng ta có thể dễ dàng khắc phục với một số thao tác đơn giản dưới đây.

Tắt bỏ chức năng Background Repagination:
Tính năng này cho phép Word tự đánh số trang trên văn bản khi chương trình ở trạng thái idle, đồng thời cũng cho phép số trang hiển thị trên thanh status bar. Tuy nhiên, điều này lại ảnh hưởng khá nhiều đến tốc độ xử lý của Word, do vậy chúng ta có thể tắt bỏ tính năng này nếu thấy không thực sự cần thiết.
Để thực hiện, hãy đảm bảo rằng Word không ở trong chế độ Print Layout, sau đó nhấn tab View > Draft trong phần Document Views:
Vô hiệu hóa tính năng Background Repagination
Còn trong Word 2010, các bạn nhấn File > Options ở cuối danh sách menu hiển thị. Cửa sổ Word Options xuất hiện, chọn tiếp Advanced, kéo chuột xuống phía dưới và bỏ dấu check tại ô Enable background repagination, sau đó nhấn OK: 
Bỏ dấu check tại ô Enable background repagination 
Tắt bỏ add – in không cần thiết:
Microsoft Word đã được đóng gói sẵn rất nhiều tính năng, nhưng rất nhiều thành phần trong đó không bao giờ được sử dụng, và chúng vẫn được kích hoạt sẵn ở chế độ mặc định. Những nguyên nhân này cũng “góp phần” vào việc giảm tốc độ hoạt động của Word, đồng thời gây nhiều khó khăn trong quá trình sử dụng.
Để khắc phục, chúng ta mở Word Options như trên và nhấn Add – Ins trong danh sách bên trái:
Chọn General > Add - Ins 
Tại đây, chúng ta sẽ nhìn thấy khá nhiều add – in đang ở trong trạng thái kích hoạt và chưa kích hoạt:
Chọn đúng những add – in tương ứng cần tắt trong cột Type:
Sau khi chuyển thành Actions tương ứng từ những add – in trong danh sách, chúng ta chọn Actions trong mục Manage > Go:
Chọn Actions > Go
Sau đó, bỏ dấu check tại tất cả các ô này và nhấn OK:
Có lẽ các bạn cũng để ý thấy có mục Document Inspector trong cộtType, nhưng lại không có Document Inspector trong danh sáchManage, vì chúng được quản lý và giám sát tại 1 vị trí khác. Cụ thể, các add – in này cho phép người dùng kiểm tra các thành phần metadata cũng như một số thông tin cá nhân khác được tự động kích hoạt trong văn bản.
Trong Word 2010, nhấn tab File > Info ở phía bên trái, chọn tiếp chức năng Check for issues > Inspect Document từ danh sách hiển thị. Còn với Word 2007, các bạn nhấn nút Office > Prepare > Inspect Document: 
Mở File > Info > Prepare for Sharing > Inspect Document
Bảng điều khiển chính của Document Inspector hiển thị, chọn thành phần bạn muốn kiểm tra và nhấn Inspect, tuy nhiên lựa chọn Invisible Contentlại chỉ có trong Word 2010:
Nhấn nút Inspect
Sau đó, chọn Remove All đối với các kết quả trả về từ hệ thống:
Nhấn nút Remove All
Tắt bỏ các tùy chọn không sử dụng:
Trước tiên là Show text animation – cho phép người dùng định dạng ký tự text trong văn bản dựa vào các hiệu ứng có sẵn trong Word, và phần lớn các trường hợp áp dụng thì hiệu suất hoạt động của Word sẽ bị giảm đáng kể. Để thực hiện, các bạn mở Word Options > Advanced, kéo chuột xuống phía dưới danh sách cho tới phần Show document content, bỏ dấu check tại ô Show text animation:
Bỏ dấu check tại ô Show text animation
Cũng tại bảng điều khiển Advanced là tùy chọn trong General - Provide feedback with animation. Tính năng này cho phép người dùng gửi thông tin phản hồi lại bộ phận phát triển ứng dụng của Microsoft với âm thanh và hiệu ứng. Thực ra, chức năng này cũng không quá cần thiết đối với phần lớn người sử dụng nếu chương trình của họ hoạt động ổn định, do vậy hãy tắt chức năng này: 
Bỏ dấu check tại ô Provide feedback with animation 
Khi sử dụng AutoShapes, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng khi chèn thêm 1 đối tượng, thì sẽ xuất hiện thêm 1 đường kẻ xung quanh đối tượng đó và được sử dụng để căn chỉnh và sắp xếp các thành phần khác trong hình vẽ. Còn nếu chỉ chèn 1 đối tượng AutoShapes đơn giản thì có lẽ không cần sử dụng thêm hình vẽ bên ngoài. Tại màn hình tùy chỉnhAdvanced, trong tùy chọn Editing là chức năng Automatically create drawing canvas when inserting AutoShapes, các bạn bỏ dấu check tại mục này:
Bỏ dấu check tại ô Automatically create drawing canvas when inserting AutoShapes
1 tùy chọn khác tại màn hình Advanced (trong mục Print) này là Print in Background – cho phép người sử dụng tiếp tục làm việc trong khi in văn bản. Trên thực tế thì chức năng này cũng không quá mức quan trọng so với cấu hình máy tính và các model máy in hiện nay, do vậy chúng ta có thể tắt bỏ tùy chọn này:
Bỏ dấu check tại ô Print in background
Còn tại màn hình Proofing là một số lựa chọn để kiểm tra chính tả và ngữ pháp khi người dùng soạn thảo. Và đây cũng là 1 trong những nguyên nhân làm “hạn chế” đáng kể tốc độ và hiệu suất hoạt động của Word, nếu bạn đủ tự tin vào khả năng soạn thảo và trình độ ngữ pháp của bản thân thì có thể vô hiệu hóa tính năng này:
Bỏ dấu check tại ô Check spelling as you type và Mark grammar errors as you type
Bên cạnh đó là tùy chọn tự động định dạng ký tự theo nhiều kiểu khác nhau của Word – có rất nhiều người sử dụng không biết cách dùng, hoặc thậm chí là không biết đến sự tồn tại của tính năng này. Để thực hiện, các bạn mở mục AutoCorrect Options trong phần Proofing:
Cửa sổ điều khiển chính của AutoCorrect, chọn thẻ AutoFormat As You Type và bỏ dấu check tại những ô chức năng tương ứng:
 
Hy vọng rằng những mẹo cơ bản trên có thể giúp các bạn cải thiện được tốc độ và hiệu suất hoạt động của ứng dụng Microsoft Word trong công việc hàng ngày. Chúc các bạn thành công!